Inventory Management Logistics Uncategorized

Logistics – cuộc cách mạng về quản lý vật tư

“No stock is the best” là một trong những phương châm tuyệt vời mà logistics thực hiện nhằm đạt được mục đích tối ưu hoá quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm. Vậy những công cụ nào đang được áp dụng để thực hiện mục tiêu quản lý vật tư  “không tồn trữ” này?

Các mô hình phương pháp quản lý vật tư thường được áp dụng

1. Hệ thống Kanban trong JIT

Chiến lược Just In Time (JIT) được gói gọn trong một câu: “sản xuất sản phẩm đúng với số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm”.

Nói cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó các luồng nguyên vật liệu, hàng hoá và sản phẩm truyền vận trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt. Qua đó, không có hạng mục nào rơi vào tình trạng để không, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành.

Kanban là công cụ để vận hành hệ thống JIT, quy định dòng vật tư trong môi trường sản xuất. Nó hành động như một tín hiệu vật chất báo cái nào cần, khi nào cần và cần bao nhiêu. Đó là quá trình nhắc nhở cần thiết cho một quá trình đầu trên có thể tiếp tục sản xuất.

Kanban có chức năng:

Hướng dẫn: là công cụ hướng dẫn sản xuất và vận chuyển.(sản xuất chi tiết, sản phẩm nào, vận chuyển bao nhiêu…)
Tự kiểm tra: để ngăn ngừa sản xuất thừa. MỗI công đoạn tự kiểm tra để đảm bảo chỉ sản xuất những chi tiết, sản phẩm vớI số lượng cần thiết, tạI thờI điểm cần thiết.
Kiểm tra bằng mắt: Kanban là một chiếc thẻ hoặc nhãn. Thẻ KANBAN không chỉ chứa thông tin bằng số mà còn chứa thông tin vật lý. ( Ví dụ: các thẻ KANBAN màu trắng, xanh lá, và vàng: màu trắng hoặc xanh thì chưa cần sản xuất ngay, màu vàng là tín hiệu việc sản xuất phảI được bắt đầu)
Cải tiến hoạt động: KANBANduy trì mức tồn kho tốI thiểu, giảm chi phí sản xuất, nhờ vậy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn.
Giảm chi phí quản lý: Hệ thống KANBAN cũng giúp giảm chi phí quản lý do hoạch định ngắn hạn không cần nữa, bởi bản chất kéo của hệ thống.

Kanban-Karte-4-300x132
Thẻ Kanban

2. Sơ đồ mạng lưới PERT (Program and Evaluation Review Technique): là phương pháp kế hoạch hoá và chỉ đạo thực hiện các dự án sản xuất, các chương trình sản xuất phức tạp.
đó mà trong đó bao gồm nhiều công việc thành phần với những trình tự tiến hành khác nhau. Mỗi công việc có thể có nhiều trình tự tiến hành nhưng chúng đều bắt đầu từ một điểm đầu tiên (điểm khởi hành) đến điểm cuối cùng (điểm kết thúc).

Một công việc được gọi là hoàn thành nếu tất cả các bước công việc (ứng với các cung) của nó được hoàn thành. Một bước công việc hoàn thành thì bước công việc đi sau nó mới có thể bắt đầu.

Sơ đồ mạng lưới PERT không những giúp đảm bảo hoàn thành công việc trong mức chi phí và thời gian cho phép mà còn giúp nhà quản trị lựa chọn phương án thực hiện tốt nhất để tối ưu hoá thời gian, chi phí, phân bố một cách hiệu quả nguồn nhân lực, phương tiện và thiết bị kỹ thuật…

chuong36
Một ví dụ về sơ đồ mạng lưới công việc PERT

3. Mô hình quản lý vật tư dự trữ Wilson: Là một phương pháp để giải quyết các bài toán quản lý một hệ thống kho hàng với mục đích xác định số lượt đặt hàng, lần đặt hàng, điểm đặt hàng sao cho không rơi vào tình trạng thừa hay thiếu hàng. Ngoài ra mô hình Wilson còn dùng để giải quyết các vấn đề giá vốn ban đầu, thời hạn và giá cả thuê kho, chiến lược dự trữ…

4. Biểu đồ Gantt: là một dạng thể hiện tiến độ dự án cổ điển nhất, được Herry Gantt phát minh ra vào năm 1910. Tuy là cổ điển nhưng do tính chất đơn giản dễ hiểu của nó mà hiện nay sơ đồ ngang Gantt vẫn được dùng phổ biến trong quản lý dự án, thậm chí còn được cải tiến, dùng trong phần mềm quản lý dự án hiện đại như; Microsoft Project, để chuyển đổi việc thể hiện các dạng tiến độ phức tạp như sơ đồ mạng, dự án.

Mục tiêu: xác định tối ưu các công việc khác nhau của một nhiệm vụ (đơn hàng, dự án,…) cần thực hiện trong một thời kỳ cụ thể

Áp dụng cho DN SX SP đơn chiếc, các thông tin cần có về độ dài mỗi công việc, điều kiện trước của các công việc, thời hạn phải hoàn thành, khả năng về nguồn lực và năng lực SX,… Trình tự các công việc trong sơ đồ bắt đầu với những công viêc không có điều kiện trước tiếp đến là các công việc mà những công việc trước nó đã hoàn thành lặp lại cho đến khi kết thúc nhiệm vụ.

264__52-slide2

5. MRP (Quản lý nguồn sản xuất)

Quản lý & Hoạch định nguồn lực Sản xuất (Manufacturing Resources Planning) là việc lên kế hoạch, đặt hàng, lưu kho, sản xuất và lắp ráp sản phẩm từ các nguyên vật liệu thô và các bộ phận. Nó xử lý việc tiêu thụ và sản xuất sản phẩm theo hóa đơn nguyên vật liệu và các hoạt động cần thiết đối với máy móc, công cụ hay nguồn nhân lực theo các công đoạn sản xuất.

MRP là một tập hợp con của bộ giải pháp quản lý doanh nghiệp sản xuất tổng thể (ERP sản xuất), là công cụ phần mềm cho phép nhà quản lý định hình sản phẩm, từ khâu dự báo nhu cầu nguyên vật liệu, tính toán chi phí nguyên vật liệu-nhân công-thiết bị, tự động lập bảng giá, chuẩn bị đơn đặt hàng, đến việc lên kế hoạch sản xuất. Tiếp theo MRP sẽ bàn giao cho phần mềm MES để tiếp tục thực hiện kế hoạch sản xuất đã đề ra.

Chức năng cơ bản của phần mềm MRP bao gồm kiểm kê hàng tồn kho, quản lý mua hàng, dự báo sản xuất, tính toán chi phí nguyên liệu, lập kế hoạch mua hàng, và các ứng dụng lập lịch trình (process scheduling applications). Dự toán chi phí nguyên liệu là chức năng cốt lõi của phần mềm MRP vì nó giúp nhà sản xuất xác định được sẽ mua những gì để tạo ra một sản phẩm. Các chức năng dự toán chi phí nguyên liệu kết hợp với kiểm kê hàng tồn kho giúp nhà quản lý theo dõi số lượng nguyên liệu có sẵn, thời gian chờ để thiết bị đặt mua về đến xưởng sản xuất, cũng như các bản ghi chép sản xuất (production logs) để ấn định thời gian giao hàng đối với các cụm chi tiết sản phẩm.

468585909011855555176. Điều hành sản xuất theo phương pháp OPT:

Phương pháp này xuất hiện ở Mỹ vào năm 1987, tác giả là hai anh em họ Goldratt với quan điểm: Toàn bộ năng lực sản xuất của doanh nghiệp do khâu yếu nhất quyết định, do đó doanh nghiệp cần tập trung vào giải quyết các điểm “thắt cổ chai”.

Mục tiêu thực sự của mọi doanh nghiệp kinh doanh là tối ưu việc điều hành sản xuất. Tức là nhà điều hành phải đồng thời làm giảm mức dự trữ, tăng khối lượng bán hàng và giảm chi phí kinh doanh sản xuất sản phẩm. Dựa trên các nguyên tắc chủ yếu:

  • Cân bằng quá trình chứ không cân bằng năng lực
  • Mức tận dụng các nguồn lực “không hạn hẹp” không do nó qui định mà phụ thuộc vào các ràng buộc khác của hệ thống.
  • Sử dụng một nguồn lực không có nghĩa là chất đầy tải cho nó
  • Nguồn lực hạn hẹp luôn quyết định năng lực cung cấp và mức độ tồn đọng của cả hệ thống
  • Thời gian lãng phí của nguồn lực hạn hẹp là thời gian lãng phí của cả hệ thống
  • Tổng hợp tối ưu cục bộ không bằng tối ưu của toàn bộ hệ thống.

 

 

 

 

 

Post Comment